Người làm tự do nên mở Nghị định 253/2026/NĐ-CP với một danh sách câu hỏi viết sẵn, không phải với ý định đọc hết. Nghị định này hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệu lực từ 1/7/2026; nó được viết cho mọi loại người nộp thuế, từ người làm công ăn lương, người kinh doanh đến người chuyển nhượng tài sản. Người làm tự do chỉ cần vài phần trong đó, và câu hỏi đúng giúp tìm ra các phần ấy nhanh hơn nhiều so với đọc từ đầu.
Bài này không kể nội dung điều khoản của nghị định mới — phần đó phải đọc từ chính văn bản. Bài chỉ ra những câu hỏi nên mang theo, vì sao mỗi câu quan trọng với người làm tự do, và những điểm đã chắc có thể dùng làm mốc đối chiếu khi đọc.
Vì sao người làm tự do cần một bộ câu hỏi riêng
Người đi làm công ăn lương có công ty lo phần lớn việc thuế: khấu trừ hằng tháng, cấp chứng từ, quyết toán thay khi được uỷ quyền. Người làm tự do thì khác. Thu nhập đến từ nhiều bên, mỗi bên khấu trừ một kiểu, có bên không khấu trừ gì; cuối năm chỉ có chính người đó biết tổng thu nhập thật là bao nhiêu.
Vì vậy, người làm tự do đọc văn bản không để “biết luật”, mà để trả lời những câu rất cụ thể: khoản này thuộc loại thu nhập gì, ai phải khấu trừ, mình có phải tự khai không, cuối năm quyết toán thế nào. Mỗi câu ứng với một phần của nghị định và văn bản hướng dẫn chi tiết đi kèm — hiện là Thông tư 87/2026/TT-BTC.
Câu hỏi thứ nhất: mỗi khoản tiền thuộc loại thu nhập nào
Đây là câu quyết định mọi thứ phía sau. Cùng là “làm thêm”, nhưng:
- Nhận tiền công từ một công ty theo hợp đồng dịch vụ ngắn hạn thường được xếp là tiền lương, tiền công với cá nhân không ký hợp đồng lao động.
- Tự bán sản phẩm, nhận đơn trực tiếp từ nhiều khách lẻ, có tổ chức hoạt động đều đặn thì có thể là thu nhập từ kinh doanh.
- Nhận tiền bản quyền cho một thiết kế, bài hát, phần mềm thì là thu nhập từ bản quyền.
Mỗi loại có cách tính và thủ tục khác nhau. Khi mở nghị định, tìm trước phần liệt kê các loại thu nhập chịu thuế, xếp từng khoản mình nhận vào đúng một loại, ghi lại căn cứ. Nếu một khoản có vẻ thuộc hai loại, đó là câu hỏi đáng gửi cơ quan thuế.
Câu hỏi thứ hai: bên trả tiền khấu trừ thế nào
Điểm đã chắc theo quy định lâu nay: tổ chức trả thu nhập từ 2 triệu đồng trở lên mỗi lần cho cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng thì khấu trừ 10%. Người có thu nhập thấp được làm cam kết theo mẫu tại thông tư hiện hành để không bị khấu trừ.
Khi đọc văn bản mới, người làm tự do nên kiểm tra:
- Quy định khấu trừ này có được giữ nguyên, sửa mức hay sửa điều kiện không.
- Điều kiện để làm cam kết là gì, mẫu cam kết nằm ở văn bản nào, và người làm cam kết chịu trách nhiệm gì nếu tổng thu nhập thực tế vượt mức đã cam kết.
- Bên trả tiền phải cấp chứng từ khấu trừ ra sao — chứng từ điện tử theo hệ văn bản hoá đơn, chứng từ hiện hành (Nghị định 254/2026/NĐ-CP, Thông tư 91/2026/TT-BTC).
Nếu đọc thấy điểm nào khác với những gì đã quen, ghi lại cả cũ lẫn mới vào sổ, kèm văn bản căn cứ. Đừng sửa thói quen chỉ vì một bài đăng trên mạng xã hội.
Câu hỏi thứ ba: mình có phải tự quyết toán không
Người nhận thu nhập từ nhiều nơi, đã bị khấu trừ 10% ở vài nơi, thường thuộc diện nên hoặc phải tự quyết toán — để nộp thêm nếu thiếu hoặc để được hoàn nếu đã bị khấu trừ nhiều hơn số phải nộp. Khi đọc nghị định và thông tư, tìm:
- Trường hợp nào phải quyết toán, trường hợp nào không phải.
- Thu nhập đã bị khấu trừ 10% có được cộng vào để quyết toán theo biểu luỹ tiến không.
- Nơi nộp hồ sơ quyết toán khi không có tổ chức trả thu nhập chính.
Hạn nộp hồ sơ tự quyết toán của cá nhân theo Luật Quản lý thuế là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ khi kết thúc năm dương lịch; kiểm tra lại nếu văn bản mới có thay đổi.
Biểu thuế luỹ tiến sau sửa đổi (số bậc, khoảng thu nhập) là điểm bài này cố ý không nêu. Đọc thẳng từ luật và nghị định; một bảng sai bậc lan trên mạng có thể làm người đọc tính sai cả năm.
Câu hỏi thứ tư: giảm trừ gia cảnh và người phụ thuộc áp thế nào
Từ kỳ tính thuế 2026, mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân là 15,5 triệu đồng/tháng, mỗi người phụ thuộc 6,2 triệu đồng/tháng theo Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15. Với người làm tự do, câu hỏi không phải là con số mà là được trừ khi nào:
- Khi bị khấu trừ 10% theo từng lần, giảm trừ gia cảnh chưa được tính — chỉ được tính khi quyết toán.
- Người phụ thuộc phải đăng ký theo thủ tục; đăng ký qua tổ chức trả thu nhập hay tự đăng ký tuỳ trường hợp.
- Nếu đang có một nơi ký hợp đồng lao động, giảm trừ bản thân thường được tính ở nơi đó; thu nhập tự do cộng vào khi quyết toán.
Khi đọc văn bản mới, xác nhận lại ba điểm trên còn đúng không. Đó là chỗ ảnh hưởng thẳng tới số tiền được hoàn hay phải nộp thêm.
Câu hỏi thứ năm: giấy tờ nào phải giữ và giữ bao lâu
Người làm tự do thường mất chứng từ vì không có phòng kế toán giữ hộ. Khi đọc văn bản, ghi chú những giấy tờ được nhắc tới trong hồ sơ quyết toán, rồi lập một thư mục riêng cho mỗi năm:
| Loại giấy tờ | Dùng để | Lấy ở đâu |
|---|---|---|
| Hợp đồng, biên bản nghiệm thu | Xác định loại thu nhập, bên trả tiền | Lưu ngay khi ký |
| Chứng từ khấu trừ thuế | Chứng minh số đã bị khấu trừ | Yêu cầu bên trả tiền cấp, tra được trên tài khoản thuế |
| Sao kê tài khoản nhận tiền | Đối chiếu tổng thu nhập | Ngân hàng |
| Hồ sơ người phụ thuộc | Tính giảm trừ | Tự chuẩn bị theo mẫu hiện hành |
Ghi sổ hai cột: điều đang làm và điều văn bản mới nói
Người làm tự do không cần một bảng so sánh công phu như phòng pháp chế. Một trang sổ chia hai cột là đủ:
- Cột trái — điều đang làm: ví dụ “Công ty A khấu trừ 10% mỗi lần trả từ 2 triệu đồng”, “Năm ngoái tự quyết toán, nộp hồ sơ ở thuế cơ sở nơi cư trú”, “Đăng ký một người phụ thuộc qua công ty đang ký hợp đồng lao động”.
- Cột phải — văn bản mới nói gì: ghi đúng phần tìm được trong Nghị định 253/2026/NĐ-CP hoặc Thông tư 87/2026/TT-BTC, kèm tên văn bản. Chưa tìm thấy thì ghi “chưa tìm thấy” chứ đừng để trống.
Dòng nào hai cột khớp nhau thì yên tâm làm tiếp. Dòng nào khác nhau là việc phải xử lý: báo bên trả tiền, sửa hồ sơ người phụ thuộc, hay đổi nơi nộp quyết toán. Dòng nào cột phải còn “chưa tìm thấy” là câu hỏi mang đi hỏi thuế cơ sở. Trang sổ này cũng giúp năm sau đọc văn bản sửa đổi nhanh hơn nhiều, vì đã biết mình phụ thuộc vào những phần nào.
Những điều không nên làm khi văn bản mới vừa ra
- Không tự suy ra “đã được miễn” từ một tiêu đề báo. Tiêu đề thường rút gọn, điều kiện nằm ở văn bản.
- Không yêu cầu bên trả tiền ngừng khấu trừ khi chưa có căn cứ rõ; nếu họ làm sai, cả hai bên cùng phải xử lý sau.
- Không nhận tiền qua tài khoản người thân để “chia nhỏ” thu nhập. Đó là cách làm sai lệch thu nhập, rủi ro thuộc về người có thu nhập thật.
- Không bỏ qua thông tư đi kèm. Nghị định nêu nguyên tắc; mẫu biểu, hồ sơ nằm ở Thông tư 87/2026/TT-BTC.
Tự kiểm tra ở đâu
- Tài khoản thuế điện tử cá nhân hoặc ứng dụng thuế trên điện thoại: xem chứng từ khấu trừ các bên đã cấp, tổng thu nhập được ghi nhận theo số định danh.
- Trang tra cứu thông tin người nộp thuế: kiểm tra thông tin đăng ký và người phụ thuộc.
- Thuế cơ sở nơi cư trú: hỏi khi không xác định được loại thu nhập hoặc nơi nộp quyết toán.
Câu hỏi thường gặp
Nghị định 253/2026/NĐ-CP có thay đổi mức khấu trừ 10% không?
Bài này không kể nội dung điều khoản của nghị định mới. Cách chắc nhất là đọc phần khấu trừ thuế trong nghị định và Thông tư 87/2026/TT-BTC, đối chiếu với quy định cũ mà mình đang áp dụng.
Nhận tiền từ khách lẻ qua chuyển khoản, không ai khấu trừ, thì có phải khai không?
Tuỳ khoản đó được xếp là tiền công hay thu nhập kinh doanh và quy mô doanh thu. Xác định loại thu nhập trước, rồi đọc phần nghĩa vụ khai tương ứng. Không có khấu trừ không có nghĩa là không có nghĩa vụ.
Làm cam kết thu nhập thấp rồi cuối năm vượt thì sao?
Người làm cam kết chịu trách nhiệm về nội dung cam kết. Nếu tổng thu nhập thực tế khác, cần khai và nộp theo đúng quy định. Đọc kỹ điều kiện cam kết trước khi ký.
Người làm tự do có được uỷ quyền quyết toán cho một công ty không?
Thường chỉ khi có hợp đồng lao động với tổ chức đó và đáp ứng điều kiện uỷ quyền theo quy định. Thu nhập từ nhiều nơi khác thì phần lớn trường hợp phải tự quyết toán.
Có cần đọc cả luật lẫn nghị định không?
Luật cho biết khung, nghị định và thông tư cho biết cách làm. Với người làm tự do, đọc phần tương ứng trong nghị định và thông tư là đủ cho việc hằng năm; mở luật khi cần xác nhận khái niệm.
Chứng từ khấu trừ bị bên trả tiền quên cấp thì làm gì?
Đề nghị họ cấp bằng văn bản hoặc email và lưu lại. Kiểm tra trên tài khoản thuế điện tử xem số khấu trừ đã được ghi nhận chưa. Nếu vẫn thiếu khi quyết toán, trình bày với cơ quan thuế kèm hợp đồng và sao kê.